Cụ Lê Văn Khuyên và tác phẩm “LỆ THỦY QUÊ TÔI”

11-12-2016
Bởi: Trần Long Có: 0 bình luận 1745 lượt xem

Cụ Lê Văn Khuyên sinh năm 1923 ở thôn Lộc An xã An Thủy huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà Nho nghèo giàu truyền thống khoa bảng. Cụ cố bốn đời thi đỗ cử nhân làm quan Tư nghiệp Quốc tử giám. Ông nội chỉ đỗ Tú tài song hai người em của ông là: Cử nhân Lê Văn Nguyên làm quan tuần vũ tỉnh Ninh Bình và thủ khoa Lê Văn Diễn làm quan tri huyện Do Linh tỉnh Quảng Trị.

Tuổi thơ của cụ đầy biến động. Cụ chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Ở trong làng, nhiều gia đình nông dân bị bốc lột đền cùng cực, họ phải bán nhà cửa, ruộng vườn sang Lào, Thái kiếm ăn hoặc vào tận đồn điền cao su của thực dân Pháp làm mồi cho bệnh tật và sâu quảng.

Khi cụ cắp sách đến trường làng cũng là lúc Đảng cộng sản Việt Nam ra đời thống nhất ba tổ chức cách mạng trong nước gồm: Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ( ở Bắc kì), An Nam cộng sản đảng (ở Trung kì) và An Nam cộng sản liên đoàn ( ở Nam kì). Rồi cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh báo hiệu cách mạng Việt Nam chuyển qua giai đoạn mới: Cách mạng vô sản. Chỉ có cách mạng vô sản đứng đầu là Đảng cộng sản lãnh đạo mới đánh đuổi bọn thực dân cướp nước và xóa bỏ chế độ phong kiến thối nát kéo dài hàng ngàn năm trên đất nước ta.

Tốt nghiệp bậc sơ học, cụ ở nhà học chữ Nho do người cha giảng dạy. Bốn năm sau, cụ thi đỗ vào trường tiểu học huyện. Tại đây, cụ được các thầy giáo giảng dạy nhiều bộ môn thuộc khoa học tự nhiên và xã hội đã mở mang tầm hiểu biết. Cụ tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc qua các triều đại Đinh – Lê – Lý – Trần…Những tấm gương anh hùng như: Hai Bà Trưng, Đinh Bộ Lĩnh, Ngô Quyền, Lý thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn trãi, Quang Trung…Đã gieo vào lòng cậu thiếu niên tình yêu nước, lòng căm ghét lũ cướp nước.

Năm 1942, tốt nghiệp bậc tiểu học, cụ trở về làng tham gia cách mạng. Mùa hè năm đó, cụ được tổ chức Việt Minh cử đi học lớp nghiệp vụ dạy học ( Vỡ lòng, đồng ấu) hai tháng tại thị xã Đồng Hới. Đầu năm học 1942 – 1943, cụ được bổ dụng làm giáo viên trường làng.

Lúc này, phát xít Nhật đánh chiếm Đông Dương ( Trong đó có Việt Nam). Chúng dùng chính sách phá lúa trồng đay phục vụ chiến tranh làm nông dân nước ta rơi vào cách cùng cực mà nạn đói khủng khiếp đầu năm 1945 là một điển hình.

Cách mạng tháng tám thành công, cụ tham gia dạy các lớp “Bình dân học vụ” chống Giặc Dốt – một trong ba thứ giặc được trung ương Đảng và Bác Hồ đề ra lúc bấy giờ. Chỉ trong vòng ba tháng, nạn Giặc Dốt trên địa bàn huyện Lệ Thủy bị đẩy lùi.

Đầu năm 1946, cụ gia nhập bộ đội địa phương và được cử làm chính trị viên trung đội cho đến cuối năm 1947, vì sức khỏe do bệnh sốt rét hành hạ, cụ chuyển qua Ủy ban kháng chiến huyện Lệ Thủy làm ủy viên văn hóa đặt tại chiến khu Bang – Rợn. Tháng 4 – 1948, cụ được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Đến tháng 8 – 1950, cụ trúng cử huyện ủy viên trực tiếp phụ trách trưởng phòng văn hóa thông tin huyện. Năm 1951, tổ chức tỉnh rút cụ về làm cán bộ văn hóa thông tin tỉnh Quảng Bình sau đó, chuyến qua ban tuyên huấn. Tháng 1 – 1965, cụ được cử làm phó ty văn hóa tỉnh. Đất nước thống nhất rồi nhập tỉnh Bình – Trị – Thiên, cụ giữ chức phó giám đốc Đài phát thanh tỉnh cho đến ngày nghỉ hưu ( 1982 ) tại thành phố Hồ Chí Minh.

Về nghỉ ngơi nhưng cụ đâu có nghỉ, cụ tham gia hoạt động đoàn thể, được tín nhiệm bầu làm phó chủ tịch hội đồng hương tỉnh Quảng Bình tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1990, cụ vận động hội đồng hương quyên góp ủng hộ 8 triệu đồng giúp đỡ bà con nhân dân huyện Lệ Thủy bị lũ lụt tàn phá. Tiếp đến, năm 1996, cụ tiếp tục quyên góp 18 triệu đồng giúp đỡ trường Tình Thương Lệ Thủy xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác dạy và học.

Mặc dầu tuổi cao nhưng cụ tích cực cùng các đồng chí trong hội cho ra đời 6 tập sách gồm: “Quảng Bình quê tôi” (3 tập) và “ Kiến Giang”(3 tập) viết về mảnh đất và con người Quảng Bình nói chung, Lệ Thủy nói riêng. Gần đây nhất (năm 2007), cụ hoàn thành tác phẩm “ Lệ Thủy quê tôi”. Tập sách dày 366 trang đề cập đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực như: Đặc điểm tự nhiên, lịch sử, địa lí, xã hội, những nét văn hóa đặc trưng của con người xứ Lệ và truyền thống đánh giặc giữ làng bảo vệ quê hương của nhân dân Lệ Thủy. Có thể nói đây là tập sách dư địa chí của huyện Lệ Thủy mà người viết đã dày công nghiên cứu.

Các con cụ cũng theo truyền thống gia đình. Anh con trai đầu là Lê Minh Điểm đã có công xây dựng xí nghiệp dược 26 thành đơn vị anh hùng. Bản thân anh đã được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời đổi mới. Người con trai thứ hai của cụ là đại tá Lê Minh Hoàng đã từng đi Bê vào sinh ra tử góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc, nay nghỉ hưu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Anh để lại nhiều trang sách viết về bộ đội địa phương tỉnh Thừa Thiên – Huế trong cuộc khán chiến chống Mỹ cứu nước vừa qua.

Cuốn Lệ Thủy Quê Tôi của cụ Lê Văn Khuyên

Tác phẩm “Lệ Thủy quê tôi” của cụ Lê Văn Khuyên do nhà xuất bản Văn hóa Gài Gòn ấn hành tháng 6 – 2007 khi cụ vừa tròn 85 tuổi. Quyển sách đề cập đến nhiều mặt: Địa lí, lịch sử, điều kiện tự nhiên, xã hội, truyền thống đánh giặc giữ làng của nhân dân Lệ Thủy từ thời kì đầu khai thiên lập địa đầu thế kỷ thứ XIV biến miền đất phù sa hoang vu “nan lác, cỏ dại phủ dày” trở thành vùng đất màu mỡ “Nhất Đồng nai nhì hai huyện” như câu ngạn ngữ mà nhân dân ở đây thường nhắc tới.

Nội dung “ Lệ Thủy quê tôi” gồm ba phần. Phần thứ nhất: Địa lí, lịch sử, xã hội. Phần thứ hai: Địa linh nhân kiệt và phần thứ ba: Lệ Thủy chống giặc ngoại xâm. Ở mỗi phần, người viết đi sâu nghiên cứu kĩ từng đặc điểm, hoàn cảnh làm nổi bật vai trò của nhân dân trong cộng đồng làng xã quyết định sự phát triển của xã hội. Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời thì vai trò lãnh đạo của Đảng như sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả chặng đường dài đấu tranh, xây dựng và phát triển sau này.

Mở đầu tập sách, tác giả viết: “chưa nói tới người Việt cổ cư trú tại Lệ Thủy mà văn hóa Bàu Tró là điểm chốt đáng lưu ý ở phía Đông – Bắc. Biển Liêm Lấp- Bàu Sen là điểm tựa phía Đông – Nam. Hai địa danh này cũng có mặt trong tổng thể 15 bộ cả nước lúc bấy giờ vời tên gọi: Bộ Việt Thường. Bộ Việt Thường luôn sẵn sàng chống lại hiểm họa xâm lăng bành trướng của các nước phương Bắc nên ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ  nước, mảnh đất phên dầu phía nam này cũng đã từng góp phần chống Tần phá Triệu suốt cả thời kì vua Hùng, vua Thục”.

Mảnh đất Lệ Thủy có bề dày lịch sử. Ngay đời nhà Trần, Tiến sỹ Hoàng Hối Khanh vào nhậm chức tri huyện Nha Ngi ông đã đưa dân hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An vào khai phá vùng đất này trở thành làng quê trù phú. Mặc dầu sau này, ông có nhiều sai lầm, nhưng nhân dân thôn Thượng Phong xưa nay vẫn lập đền thờ coi ông như vị thành hoàng của mình.

Đến thế kỷ XV khi Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi làm cuộc trường kì kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, nhà vua đã hết lời ca ngợi quân dân Thuận Hóa – Tân Bình: “Xưa bản triều ta đương buổi hưng thịnh. Đời Tiên hoàng, Chiêm Thành trái lệnh xâm lấn biên ấp nước ta, ông cha các ngươi đã hết lòng gắng sức lo báo nước nhà, đánh đuổi giặc Chiêm thu về bờ cõi, tiếng thơm công lớn, sách sử lưu truyền. Nay giặc Minh xâm lược, các quan ở kinh lộ (Kinh đô) cùng quân Dực Thanh tả hữu ThiênTrường, Thiên Cưỡng ngày rước hoặc đừng đầu Nam ban hay tình thân hoàng tộc, ngoại thích vẫn chưa thấy mấy người hết lòng gắng sức dựng nước công to. Thế mà bọn ngươi lấy chức phận phiên thần, biết nghĩ đến công nghiệp cha ông ngày trước, hết trung với nước, cùng lòng hợp sức, mưu rửa quốc sĩ, đánh hơn lấy được, đến đâu cũng lập được công to. Trung thành như thế thực đáng thưởng khen”( Lệ Thủy quê tôi – Tr 17; 18).

Thế kỷ XV, mảnh đất xứ Lệ đã khẳng định mình trong lịch sử dân tộc. Ninh Viễn thành ( thành nhà Ngo ) vẫn còn di tích ngày nay ở thôn Uẩn Áo xã Liên Thủy được xây dựng vào những năm 1470 – 1475 niên hiệu Hồng Đức.

Xét về mặt địa lí, “Lệ Thủy quê tôi” đề cập đến những con sông: Kiến Giang, Cẩm Lý, Rào Sen, Rào Con trong đó đi sâu vào con sông Kiến Giang với những nét đặc trưng. Tác giả mượn lời trong “Ô châu cận lục” của học giả Dương Văn An: “Sông ở huyện Lệ Thủy, dòng nước trong veo, vị nước bình đạm, quậy lên không vẩn đục, uống vào không biết chán. Hai hạt Lệ, Khang ( Lệ Thủy và Khang Lộc ở hai bờ tả hữu sông Bình Giang), những thôn xóm nhà dân, quan nha, công thự cùng là thị trấn phố phường đều la liệt ở hai phía tả hữu”.

Đặc biệt, tác giả mô tả phá Hạc Hải: “ Hạc Hải là biển cạn nằm trọn giữa hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh rộng gần 1000 ha ruộng nước. Bề ngang kéo dài từ thôn Xuân Hòa( Hoa Thủy) gần dãy Trường Sơn đến quốc lộ 1. Bề rộng chạy từ thôn An Lạc(Lộc Thủy) ngang qua thôn Phú Việt( Thanh Thủy) cho đến Hồng Thủy và một phần xã Gia Ninh( Quảng Ninh). Đây là nơi thủy triều lên xuống hàng ngày với nguồn nước lợ có nhiều món lợi vô giá. Ruộng sâu, lắm bùn phì nhiêu. Hàng năm, vô số phù sa từ các con sông Lệ Thủy đổ về bù đắp”.

Ngoài phá Hạc Hải, “ Lệ Thủy quê tôi”  còn đề cập đến các thắng cảnh và di tích lịch sử khác như: Trôốc Vực, đồi An Mã, suối nước nóng khe Bang, Bàu Sen, hồ chứa nước An Mã, Cẩm Ly, lăng mộ Nguyễn Hữu Cảnh, nhà đại tướng Võ Nguyên Giáp, bia tưởng niệm anh hùng Lâm Úy trong chiến thắng Xuân Bồ…Mỗi thắng cảnh, mỗi di tích đều mang dáng dấp riêng, vẻ đẹp riêng khó trộn lẫn vào đâu được.

Đề cập đến các chợ trên đất Lệ Thủy đặc biệt chợ Tréo, tác giả viết: “Năm 1959, có một du khác ở Hà Nội vào thăm chợ Tréo. Sau khi dừng chân giữa chợ, thưởng thức bát cháo bánh canh và ăn mấy quả trứng vịt lộn, anh thich thú đứng nhìn cảnh vật rồi thốt lên làm mọi người sửng sốt: “Ôi, trời ơi! Sao hàng hóa ở đây rẻ đến thế!”.

Thật vậy! Ở chợ Tréo, hàng hóa lâm hải sản tràn đầy mà giá lại rất rẻ. Chỉ tính riêng mặt hàng gạo và thịt ở đây lúc nào giá cũng chỉ bằng một nửa ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đó là những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước ( Còn ngày nay thì giá cả các nơi gần như ngang bằng). Ngày xưa bà con ở thị xã Đồng Hới khi tiễn người nhà lên ăn gạo “hai huyện”, bao giờ cũng dặn dò:

Ai lên Tuy Đợi thì lên

Bún thịt chợ Tréo chớ quên mang về

( Lệ Thủy quê tôi – Tr 53)

Phần II, quyển sách đề cập đến địa linh nhân kiệt, tác giả giới thiệu sơ lược về nét đẹp của người dân lao động Lệ Thủy thể hiện ở tính siêng năng cần cù, chịu thương chịu khó. Xưa nay, người dân Lệ Thủy quen ăn cơm ba bữa mỗi ngày bởi lẽ họ làm công việc nặng nhọc, phải thức khuya dậy sớm ra đồng cày cấy, gặt hái, nước ngập tới bụng nên mới xuất hiện câu tục ngữ: “Có thực mới vực được đạo”. Và cũng từ công việc lao động nặng nhọc ấy, họ mới sáng tác những câu ca dao cùng điệu hò khoan bắt miệng để xua tan sự mệt nhọc.

Không chỉ đề cập nét đẹp của người dân lao động, tác giả còn dành nhiều trang viết về danh nhân Lệ Thủy chiếm tới 192 trang sách.

Mở đầu phần này, tác giả thống kê 9 vị tiến sỹ, 5 vị phó bảng và 13 vị cử nhân triều Nguyễn trên đất Lệ Thủy có người giữ chức thượng thư đầu triều như Võ trọng Bình, Châu Đình Kế. Đó là những quan văn. Còn quan võ có 7 vị đều là những người có công đánh giặc và dũng cảm hy sinh trong đó có liệt nữ Hoàng Thị Tám, con của dũng tướng Hoàng Phúc thời Cần Vương phục vụ dưới trướng của lãnh tụ Phan Đình Phùng trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Trên đường chở vũ khí từ Thái Lan về nước cho nghĩa quân. Việc bị lộ, cô nhảy xuống biển tự vẩn. Hành động anh hùng của cô đã được tướng quân Phan Đình Phùng thương tiếc và ca ngợi bằng bài thơ Đường 8 câu, các chử trong mỗi câu kết thành con số 8:

Một bước chân đi bảy dặm trường

Một phần trông đợi bảy phần thương

Rượu nồng ba chén, năm canh những

Thi hứng đôi câu, sáu khúc càn

Mấy vẽ mày Nghiêu, châu với liễu

Nửa dây đàn Thuấn, bạn cùng loan

Ước đặng bốn mùa xuân cả bốn

Bốn phương bốn lạy vái đông hoàng.

Từ đó về sau, tấm gương của Hoàng Thị Tám đã đi vào trang sử quê hương. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân dân Quảng bình phát động phong trào yêu nước lan rộng thành “ Mặt trận cô Tám”. Hoàng Thị Tám, cái tên riêng trở thành tên chung được mọi người hưởng ứng: “ Mặt trận cô Tám”.

Trong suốt 30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những người con của mảnh đất xứ Lệ anh hùng đã được tập sách đề cập khá kỹ lưỡng. Từ nhân vật Lê Văn Khoan ( văn sỹ) đến liệt sỹ Lê Viên rồi các tên tuổi như: Nguyễn Tư Thoan, Võ Quyết, Nguyễn Văn Thanh, Lương Hữu Sắt, Đào Viết Doãn, Lê Bá Ước…Đặc biệt đại tướng Võ Nguyên Giáp, tác giả dành nhiều trang viết với tình cảm hết sức mến yêu kính phục.

Phần cuối tập sách, người viết đề cập đến mảnh đất Lệ Thủy chống giặc ngoại xâm. Gần 100 trang sách đã dắt dẫn bạn đọc tìm hiểu những cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp thời Cần Vương. Tác giả xoáy sâu vào tướng quân Hoàng Phúc với nghĩa quân Lèn Bạc nhất là trận đánh ở đuồi thôn Mỹ Lộc tiêu diệt một đại đội giặc, bắt sống viên quan văn và chém sả vai viên đề đốc.

Giai đoạn 1930 – 1945 khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập đã được tập sách thể hiện khá rỏ nét. Chúng ta hãy lắng nghe cụ Lê Văn Khuyên kể về việc thành lập chi bộ Mỹ Trung: “Tháng 11 năm 1931, tỉnh ủy Quảng Trị cử đồng chí Trần Bá Thừa ra Lệ Thủy thành lập chi bộ ghép Mỹ Trung( Mỹ Thổ và Trung Lực) tại miếu thành hoàng gồm ba đồng chí: Lê Thuận Chất, Lê Thuận Sản và Nguyễn Đông. Tháng 12 năm 1933 đồng chí Đoàn Thừa và đồng chí Trần Ngọc Hoành( Quảng Trị) tiếp tục ra Lệ Thủy được sự che chở và giúp đỡ của quần chúng cùng các đồng chí chi bộ Mỹ Trung kết nạp thêm một số đảng viên và thành lập các chi bộ như: Chi bộ Văn Xá 3 đảng viên do đồng chí Dấp làm bí thư, chi bộ Châu Xá 3 đảng viên do đồng chí Sức làm bí thư. Tháng 2 năm 1933, chi bộ Mỹ Trung tổ chức mít tinh ở Động Lực có gần 70 người tham gia. Họ công khai vạch trần sự áp bức bốc lột của giai cấp địa chủ đồng thời kêu gọi nhân dân đi theo cách mạng”.

Thời kì 1936 – 1939, mặt trận bình dân Pháp thắng lợi. Ở Đông Dương, mặt trận dân chủ được thành lập. Đây là điều kiện để các đồng chí đảng viên cộng sản hoạt động công khai. Các đồng chí đấu tranh mở trường Thành Chung để con em hai xã Hoàng Hoa Thám, Minh Khai được học tập mở mang dân trí.

Năm 1937, thực dân Pháp bày trò bầu cử Viện dân biểu Trung Kì. Vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh và Đồng Hới là một đơn vị bầu cử. Biết trước ngày bầu cử (8 – 8 – 1937), những người cộng sản Lệ Thủy đã vận động cụ Học Chè – một nhân sĩ yêu nước về Đồng Hới tham dự và viết bài văn tế 9 vị hỏng đại biểu vạch mặt tên tư sản ngụ cư bỏ tiền ra mua phiếu để bầu các ông nghị gật.

Cũng từ tập sách này, tác giả tố cáo tội ác của phát xít Nhật bắt nông dân Việt Nam phá lúa, trồng đay phục vụ chiển tranh gây nên nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm chết hai triệu người.

Trong cuộc trường kì chống Pháp, tác giả còn vạch trần bộ mặt tàn nhẫn của lũ thực dân đã sát hại 298 người dân vô tội ở cầu Mỹ Trạch, đốt cháy 400 nốc nhà của đồng bào ở dấy. Tiếp đến, vụ thảm sát 83 cụ già ở Lê Xá – Mai Thủy đầu năm 1948 gây lòng căm thù cho nhân dân Lệ Thủy, Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung.

Ngoài ra, tập sách còn đề cập đến những chiến thắng lớn của quân dân Lệ thủy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ trận đánh đồn An Định, chợ Chè, Mỹ Ninh, phục kích sông Kiến Giang đến trận đánh đèo Trung Lực, chống càn thôn Mỹ Lộc – Xuân Lai chiến thắng Xuân Bồ… được tác giả lược thuật khá đầy đủ.

Giai đoạn 1955 – 1975 với 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh trả máy bay tàu chiến trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ tập sách phản ánh còn quá ít, thậm chí có phần sơ lược.

*

“Lệ Thủy quê tôi” là tác phẩm cuối cùng của cụ Lê Văn Khuyên. Đây là tập sách có tính chất khảo cứu nên người viết đã dày công sưu tầm tài liệu, sách vở của các học giả trong nước xưa và nay ( kể cả các học giả nước ngoài). Tập sách đã tái hiện được cả một chặng đường dài của lịch sử dân tộc ( 5 thế kỷ) để người đọc thấy được bề dày của mảnh đất “ Nhất Đồng Nai nhì hai huyện” góp phần thúc đẩy huyện nhà đi lên trên con đường ấm no hạnh phúc.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn lời đồng chí bí thư huyện ủy Nguyễn Đình Hiệu đánh giá tập sách: “Tập bản thảo dày trên 300 trang với nội dung chắt lọc, cô đúc tương đối ngắn gọn xoáy sâu vào ba chủ đề lớn: Địa lí, lịch sử, điều kiện tự nhiên, xã hội và truyền thống chống giặc ngoại xâm của mảnh đất, con người Lệ Thủy anh hùng từ những ngày đầu sơ khai được các vị tiền bối khai điền, lập ấp, dựng làng đầu thế kỷ thứ XIV trở thành vùng đất tươi tốt, trù phú như bây giờ. Những tên đất, tên người, những chiến công hiển hách của con người xứ Lệ đã được tác giả Lê Văn Khuyên dày công sưu tầm, chọn lựa, sắp xếp đầy đủ. Bên cạnh đó, với sự khéo léo dẫn dắt, minh họa bằng các giai thoại đậm đà bản sắc với ngôn ngữ địa phương; những phong tục tập quán, những nét đẹp văn hóa của người dân xứ Lệ bao đời là nét chấm phá cơ bản được tác giả nêu lên trong tập sách hết sức sinh động và độc đáo. Tuy nhiên, với tiêu đề “ Lệ Thủy quê tôi” mà nội dung đã thể hiện trong tập bản thảo. Nếu sách được tái bản, tác giả cần dành nhiều thời lượng hơn, sâu hơn, không chỉ vừa giới thiệu về mảnh đất và con người ở đây mà có thể phân tích, bình luận thêm làm nổi bật tính triết lí, nhân văn của tác phẩm”.

 

Tháng 5 năm 2011

Bài viết của bác Nguyễn Khoa Học

______________________________

Cuốn sách củng chính là cảm hứng để mình lấy tên website và fanepage là Lệ Thủy Quê Tôi <3

Bạn nghỉ gì ?

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC